16 thg 5, 2009

Trong hơn tám thế kỷ qua các chính quyền Việt Nam chưa bao giờ để mất đất đai, không những thế, lành thổ của chúng ta không ngừng mở mang. Nhưng từ 30 năm qua, chúng ta đã mất nhiều và mất về tay đồng minh thân thiết nhất của chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay : Trung Quốc.

Năm 1969, Trung Quốc viện cớ xây dựng một nhà ga ở Nam Quan để tiếp liệu cho Bắc Việt trong chiến tranh và lợi dụng lúc chính quyền Hà Nội đang bối rối vì những thiệt hại nặng trong chiến dịch Tết Mậu Thân đã dời cột mốc biên giới vào phía trong lãnh thổ Việt Nam gần một cây số, chiếm mất ải Nam Quan. Sự kiện này đã được giấu nhẹm cho tới nay.

Tháng 1-1974, Trung Quốc dựa vào sự bối rối của chính quyền Sài Gòn xua quân chiếm quần đảo Hoàng Sa. Miền Nam lúc đó đang trên đà thất bại và khốn đốn về cuộc nội chiến đã không thể tự vệ, chính quyền cộng sản đã im lặng. Lỗi tại ai ? Công bình nhất thì phải nói là lỗi tại cuộc nội chiến mà đảng cộng sản đã phát động và coi như một cuộc "chiến đấu thần thánh" (từ ngữ của chính họ). Ngoài ra, Trung Quốc đã đánh chiếm Hoàng Sa dựa vào một công hàm ngày 14-9-1958 của ông Phạm Văn Đồng nhân danh chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tán thành một bản tuyên ngôn ngày 4-9-1958 trước đó của Bắc Kinh coi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.

Đầu năm 1988, Trung Quốc tung hải quân đánh chiếm hơn hai mươi đảo nhỏ của Việt Nam trong quần đảo Trường Sa.

Trong hai năm 1999 và 2000, chính quyền cộng sản ký thỏa ước với Trung Quốc về biên giới và vịnh Bắc Bộ, nhìn nhận sự chiếm đóng của Trung Quốc trên một phần lãnh thổ của Việt Nam được những nguồn tin từ nội bộ đảng cộng sản ước lượng là 720 km2 dọc biên giới Việt-Trung, đồng thời phân chia lại lãnh hải theo tỷ lệ 53% của Việt Nam và 47% của Trung Quốc thay vì 62%-38% như trước đây. Cần phải nói ngay là tỷ lệ phân chia này không hề là một bất công đối với Trung Quốc, mà chỉ căn cứ, một cách khiêm nhượng, trên sự kiện là Việt Nam có nhiều đảo trong vịnh Hạ Long.

Điều không thể hiểu nổi là chính quyền Hà Nội đã tuyệt đối giữ bí mật những thỏa ước này. Trầm trọng hơn nữa là quốc hội cũng đã thông qua ít nhất hiệp ước về biên giới phía Bắc mà không hề thông báo cho dân chúng. Việc quốc hội thông qua thỏa ước này chỉ được khám phá một cách rất tình cờ.

Vì yếu, bị cô lập và bị thù ghét

720 km2 là một diện tích quan trọng, 0,22% lãnh thổ. Nhưng Việt Nam đồng thời cũng mất đi cả một phần lịch sử của mình. Người Việt Nam nào lớn lên chẳng được nghe "đất nước ta chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu" ? Đó cũng là nơi Nguyễn Phi Khanh bảo con là Nguyễn Trãi hãy gác tình nhà mà trở về phấn đấu giành lại đất nước. Biết bao văn thơ của ta đã lấy ải Nam Quan làm địa danh. Nam Quan nằm trong trái tim mọi người Việt, nay Nam Quan đã mất về tay Trung Quốc. Trái tim Việt Nam rướm máu. Cái hận Nam Quan ngày xưa là cái hận hùng tráng làm nức lòng người, cái hận Nam Quan ngày nay là cái hận tê tái, tủi nhục không biết bao giờ nguôi.

Mất Hoàng Sa và một phần Trường Sa thêm vào hàng chục ngàn km2 vùng biển Bắc Bộ, Việt Nam cũng đã mất luôn một phần quan trọng các nguồn lợi hải sản và dầu khí. Và dĩ nhiên quyền giao thông hàng không và hàng hải. Hơn nữa Hoàng Sa sẽ luôn luôn là một lưỡi dao dí bên cạnh sườn Việt Nam.

Chúng ta đã mất đất, mất đảo và mất biển vì yếu. Chúng ta yếu vì cuộc nội chiến mà Đảng Cộng sản Việt Nam cho là vinh quang của họ, và chúng ta cũng yếu vì một chính sách cai trị tồi dở và thô bạo.

Nhưng yếu không phải là tất cả, một lý do quan trọng khác là Việt Nam đã bị cô lập và do đó bị Trung Quốc khống chế. Trước năm 1975 chính quyền cộng sản Việt Nam hãnh diện được làm đàn em của Trung Quốc vĩ đại. Cái thế lệ thuộc khờ khạo đó đã dẫn đến bức công hàm của ông Phạm Văn Đồng và sự im lặng sau khi quần đảo Hoàng Sa bị đánh chiếm.

Một lý do khác là tập quán huênh hoang của những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Phần lớn những vùng đất ở biên giới phía Bắc thực ra đã mất từ tháng 2-1979 khi Trung Quốc tấn công trả đũa việc Việt Nam đem quân vào Cam Pu Chia đánh đuổi tập đoàn Pol Pot. Trận này Việt Nam thua to. Theo chính tuyên bố của Hà Nội thì Trung Quốc đã hy vọng đụng độ để tiêu diệt những đạo quân chính qui của Việt Nam nhưng đã chỉ gặp được các toán địa phương quân. Như vậy thì phải hiểu là lực lượng đôi bên rất chênh lệch. Sự thất bại của Việt Nam cũng thể hiện rất rõ rệt qua số tù binh được trao đổi khi ngừng bắn. Phía Việt Nam chỉ bắt được khoảng 600 tù binh Trung Quốc, phần lớn những tù binh này khai trên truyền hình Việt Nam là họ đã lạc đường, trong khi Trung Quốc bắt được của Việt Nam hơn 1 200 tù binh. Khi hai bên ngừng bắn, Trung Quốc vẫn còn chiếm đóng của Việt Nam phần lãnh thổ mà chính quyền cộng sản vừa chính thức nhượng.

Riêng ải Nam Quan thì như trên đã nói bị Trung Quốc chiếm từ năm 1968. Không ai biết bộ chính trị có biết hay không nhưng đã làm thinh. Mãi tới năm 1971, một sĩ quan có dịp đến đó mới báo cáo cho đại tá Hải Anh, phó văn phòng tổng cục chính trị. Ông Hải Anh từ Hà Nội lên quan sát nhưng đến nơi thì bị quân Trung Quốc chặn lại. Ông chửi mắng rầm rĩ và báo cáo cho cấp trên nhưng báo cáo của ông đã không bao giờ có hồi âm.

Lúc đó Việt Nam đang khủng hoảng rất nặng. Sinh hoạt kinh tế hoàn toàn sụp đổ, ngay cả miền Nam không đủ gạo ăn, tại các quán cơm Sài Gòn người ta cân phần cơm ; quân đội đang kẹt ở mặt trận Cam Pu Chia ; thế giới đang phẫn nộ vì những thảm kịch của đợt vượt biên chính thức do nhà nước Việt Nam tổ chức.

Việt Nam đã không thể giành lại phần đất đã mất vì vừa yếu lại vừa bị cô lập và thù ghét. Tuy nhiên, thay vì tố cáo Trung Quốc đã dùng sức mạnh để lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, chính quyền cộng sản đã huênh hoang khoe là mình chiến thắng. Phía Trung Quốc đã im lặng, gián tiếp nhìn nhận mình đã thua. Bộ máy tuyên truyền của Việt Nam còn phao đồn rằng quân Việt Nam đã giết được cả trăm ngàn quân Trung Quốc và gây kinh hoàng đến độ người dân Trung Quốc vùng biên giới phải bỏ chạy, hàng chục cây số không thấy một bóng người. Như vậy ai có thể ngờ rằng Việt Nam đã mất đất ? Sự huênh hoang của Đảng Cộng sản Việt Nam còn lố bịch hơn nữa, vì thực ra sau đó Trung Quốc vẫn tiếp tục lấn chiếm và đụng độ vẫn tiếp tục xảy ra tại biên giới. Cụ thể là ngày 12-7-1984, một trận đánh lớn đã xảy ra ở biên giới Cao Bằng trong đó quân Việt Nam bị thiệt hại rất nặng (1). Việt Nam vẫn tiếp tục mất đất và đảng cộng sản vẫn tiếp tục huênh hoang là chiến thắng.

Sau cùng là sự ngu xuẩn. Nếu không thể làm được gì cả thì vẫn còn một giải pháp là đừng làm gì cả. Cứ để tình hình giằng co như vậy ít ra cũng không tạo ra một sự kiện đã rồi, trói tay các chính quyền mai sau. Tại sao chính quyền Hà Nội đã ký thỏa ước nhượng đất và nhượng biển ? Ký thì được cái gì ? Nếu không ký thì sao ? Tại sao lại ký mà không công bố ? Phải chăng vì đã nhượng bộ quá nhiều và thấy mình có tội lỗi ? Hay ph'ải chăng những người lãnh đạo ĐCSVN đã nhận được lợi lộc lớn của Bắc Kinh để ký nhận bán đất và bán biển cho Trung Quốc?

Và câu hỏi không bao giờ có thể trả lời được : tại sao quốc hội lại thông qua một cách lén lút ? Vẫn biết rằng quốc hội này chỉ là một quốc hội bù nhìn nhưng sự kiện này vượt mọi tưởng tượng.

Có thể mất thêm nhiều hơn nữa

Trứớc một mất mát đau đớn, câu hỏi tự nhiên và đầu tiên là phải làm gì ?

Phải thẳng thắn mà nhìn nhận rằng trong nhất thời chúng ta không làm được gì cả. Đánh lại ư ? Quân đội Việt Nam quá yếu, cơ giới lỗi thời và hơn thế nữa phần lớn quân đội đã chuyển qua kinh doanh kể cả kinh doanh du lịch, khách sạn và vũ trường. Nếu có thể đánh mà lấy lại đất thì vấn đề đã không xẩy ra. Những người lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam không thích Trung Quốc, họ chỉ sợ Trung Quốc mà thôi. Họ sợ cái gì là một chuyện khác. Một chính quyền Việt Nam trách nhiệm và sáng suốt sau này cũng không thễ nghĩ đến việc gây chiến để chiếm lại. Hậu quả của một cuộc xung đột mới với Trung Quốc sẽ chỉ làm các nhà đầu tư nước ngoài cuốn gói ra đi mà chưa chắc gì đã lấy lại được một tấc đất nào. Phải thực tế mà nhìn nhận ràng trừ khi có một phép mầu những gì đã mất sẽ không thể lấy lại.

Nhờ dư luân thế giới và áp lực của các chính phủ dân chủ ư ? Ai ủng hộ chính quyền Việt Nam, một chính quyền đã chà đạp nhân quyền, lại còn liên tục thách đố thế giới một cách lỗ mãng như ủng hộ Sađam Hussein, Milosevic, và có lúc cả bè lũ Taliban và bin Laden ?

Chúng ta đã không làm được gì để lấy lại đất đã mất nhưng chúng ta có thể mất thêm nhiều hơn nữa. Những cái mốc mà hai chính quyền Trung Quốc và Việt Nam đang cắm chẳng có một giá trị nào cả. Chúng cũng có thể bị Trung Quốc nhổ đi như họ đã nhổ đi những mốc trước. Và hậu quả có thể rất trầm trọng đối với Việt Nam.

Núi phải có chân. Núi thuộc về kẻ ở chân núi. Chúng ta không biết chính quyền Hà Nội đã nhường đất tới đâu. Đây là một hiệp ước được ký và thông qua một cách lén lút, ngay cả những nhân vật rất cao cấp trong bộ máy đảng và nhà nước (chưa nói tới các đại biểu quốc hội bù nhìn) cũng không biết. Nhưng nếu có những nơi mà đất được nhượng cho Trung Quốc tới sát chân núi thì có rất nhiều nguy cơ là núi cũng sẽ mất luôn. Nên nhớ rằng nước ta sở dĩ còn tồn tại đến ngày nay mà không bị Trung Quốc sáp nhập là nhờ được bảo vệ bởi dãy núi trùng điệp dày cả trăm cây số dọc theo biên giới. Mất núi thì về lâu về dài cả lãnh thổ ta bị đe dọa.

Sau đó Trung Quốc còn có một khả năng xâm nhập và khuynh đảo rất lớn ở miền Bắc nước ta qua các sắc tộc ít người. Một trong những thất bại của Việt Nam, từ rất lâu trước chế độ cộng sản, là đã không hội nhập được các sắc tộc này vào cộng đồng dân tộc vì thiếu một quan niệm đứng đắn về quốc gia. Những sắc tộc này không gần gũi với Việt Nam hơn Trung Quốc bao nhiêu về mặt tình cảm. Có những sắc tộc còn nói tiếng Quảng Đông. Ở vùng biên giới sự hòa trộn giữa bên này và bên kia lại rất lớn. Trung Quốc rất có khả năng mua chuộc một số sắc tộc để xúi giục họ nổi loạn và gây bất ổn, nhất là các sắc tộc này đang rất cơ cực và có cảm tưởng bị Hà Nội bỏ quên.

Trung Quốc cũng có thể, như họ đã bắt đầu làm, chiếm đoạt và khai thác những tài nguyên dưới lòng biển của Việt Nam chung quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thậm chí họ có thể đánh chiếm nốt những đảo còn lại của Việt Nam tại Trường Sa.

Tất cả những đe dọa trên là có thật và cần được cảnh giác, nhưng nếu những người lãnh đạo đảng cộng sản nghĩ rằng họ có thể làm đẹp lòng Trung Quốc bằng những nhượng bộ về lãnh thổ và lãnh hải để đổi lại với một tình láng giềng tốt thì họ lầm to. Lấn đất là tâm lý căn bản của Trung Quốc. Văn hóa Trung Quốc không phải là một thứ văn hóa tỏa rộng bằng thương mại, khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật, mà là thứ văn hóa nông nghiệp trong đó lấn đất là một bản năng. Ngay cả giai cấp lãnh đạo của Trung Quốc cũng mang nặng tâm lý này. Dù cho chính quyền Việt Nam có nhân nhượng tới đâu thì khi cần Trung Quốc vẫn có thể tìm được lý cớ để gây hấn để lấn chiếm tiếp. Đối với Trung Quốc, chỉ có một giải pháp : phải mạnh, hoặc có thế mạnh.

Trung Quốc và ta

Có thể nói trừ một ngoặc đơn ngắn, một trăm năm Pháp thuộc, lịch sử Việt Nam chủ yếu là lịch sử những cố gắng đương đầu với Trung Quốc. Lịch sử đó cho phép chúng ta rút ra một kết luận : Trung Quốc tham đất nhưng không không quyết tâm. Họ ham đất với bản năng của một nông dân chứ không phải với ý chí của một kẻ đi chinh phục. Khi họ yếu hoặc khi chúng ta mạnh thì họ để ta yên. Mặt khác, cũng như một qui luật lịch sử, khi dân tộc ta đoàn kết thì chính quyền mạnh và giữ được nước, khi chúng ta chia rẽ hoặc có nội chiến thì bị bắt chẹt. Chúng ta đang yếu bởi vì chúng ta đang có một chính quyền bị toàn dân thù ghét.

Đất nước là tài sản thiêng liêng mà tổ tiên đã tốn bao xương máu để tạo dựng và gìn giữ cho con cháu. Dâng đất không những xúc phạm tới tỗ tiền mà còn có tội lớn với muôn đời con cháu.

Những người lãnh đạo đảng cộng sản không phải là không thấy được rằng việc ký hiệp ước nhượng đất và biển cho Trung Quốc là hành động rất nghiêm trọng, dứt khoát và vĩnh viễn đặt họ vào thế có tội với dân tộc. Họ cũng thừa hiểu rằng hành động này có thể làm tan vỡ đảng bởi vì chính đại bộ phận đảng viên cộng sản cũng rất phẫn nộ. Chính vì thế mà họ đã che đậy và giấu giếm.

Và họ cũng thừa hiểu rằng việc quốc hội lén lút thông qua hiệp ước này mà không công bố là một sự kiện chưa từng có trong lịch sử thế giới từ ngày có báo chí và thông tin. Hành động này đã làm mất tất cả mọi chính đáng (nếu giả thử là đã có) của chế độ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Làm sao họ có thể nghĩ rằng họ có thể giấu giếm dân chúng một cách lâu dài sự kiện trầm trọng này ?

Tuy vậy, họ làm như họ đã làm. Bởi vì họ quá cô lập đối với thế giới và đối với cả dân chúng trong nước. Bắc Kinh là chỗ dựa duy nhất của họ, và Bắc Kinh đã bán đắt chỗ dựa này. Đây là vấn đề cũ kỹ của một tập đoàn dựa vào ngoại bang để tiếp tục tồn tại. Lòng tham quyền lực đã dẫn đến sự mù quáng. Đến lượt nó sự mù quáng này có thể dẫn đến hậu quả không ngờ là làm cho chế độ sụp đổ sớm hơn. Có một sự kiện mà mọi người phải nhận định một lần cho tất cả là Việt Nam là một quốc gia lớn, với gần 80 triệu dân, cho nên một chế độ không còn phù hợp thì phải cáo chung. Những cố gắng dựa vào một thế lực bên ngoài để bảo vệ nó chỉ làm cho nó sụp đổ sớm hơn và ô nhục hơn mà thôi.

Đối với Trung Quốc, ta chỉ có một cách để có hòa bình và hợp tác thực sự là phải mạnh. Muốn mạnh phải có đoàn kết dân tộc, và muốn đoàn kết thì phải có hòa giải dân tộc. Dân chủ thành thực là điều kiện bắt buộc cho hòa giải dân tộc.

Lột xác và hóa thân

Hy vọng lấy lại được vùng đất và vùng biển đã mất tuy rất ít nhưng không phải là không có. Phép màu có thể có. Với điều kiện là chúng ta biết nhìn về tương lai một cách thông minh.

Ta có thể mạnh và có thể rất mạnh sau một thời gian tương đối ngắn với điều kiện là phải hiện đại hóa và dân chủ hóa một cách thật dứt khoát và quả quyết. Ta có một địa thế rất thuận lợi, một nguồn nhân lực rất dồi dào với những con người siêng năng, hiếu học. Bí quyết thành công là phải lôi kéo được thật nhiều đầu tư nước ngoài để biến nước ta thành thủ đô đầu tư tại châu Á của các công ty đa quốc gia và biến dân tộc ta thành một dân tộc kinh doanh. Điều này chúng ta có thể làm được nếu có quyết tâm, và nếu động viên được toàn dân trong một cố gắng chung.

Và khi chúng ta đã giàu mạnh thì khả năng lấy lại đất và biển cả là có thực. Sự giàu mạnh của nước Nhật đã buộc Nga phải từ bỏ thái độ trịch thượng về quần đảo Kurila mà họ chiếm đoạt từ Thế Chiến II. Nếu Việt Nam giàu mạnh thì có một lúc Trung Quốc sẽ phải tự đặt câu hỏi nên giữ đất hay nên trả lại đất.

Việc mở lại những cuộc đàm phán với Trung Quốc về biên giới, hải đảo và vùng biển trong một hai thập niên nữa càng có thể hình dung được bởi vì Trung Quốc đang phải đương đầu với những đe dọa rất trầm trọng và sẽ rất bối rối. Đe dọa nghiêm trọng nhất của Trung Quốc là hiện tượng sa mạc hóa, hậu quả của chính sách cai trị duy ý chí, bất chấp môi trường. Sa mạc đang từ Bắc gậm nhấm về phía Nam với vận tốc lớn và đã tới gần Bắc Kinh. Lượng nước trung bình cho một người Hoa lục hiện nay chỉ là 15% mức trung bình thế giới. Nhiều cuộc xung đột đẫm máu đã xảy ra giữa các địa phương để giành nhau một dòng nước. Trung Quốc chưa có giải đáp nào cho mối nguy ngày càng lớn này. Đe dọa thứ hai là sự cách biệt và đố kỵ ngày càng lớn về mọi mặt giữa các tỉnh bờ biển phía Đông và các vùng sâu trong lục địa. Nguy cơ ly khai và nội chiến rất rõ rệt và có thể làm Trung Quốc tan vỡ. Đe dọa thứ ba là một khối vài trăm triệu người bỏ nông thôn sống lang thang ngoài vòng pháp luật ở ngoại ô các thành phố lớn. Một khó khăn khác là sự chuyển giao thế hệ trong ban lãnh đạo đảng và nhà nước từ thế hệ Giang Trạch Dân sang thế hệ Hồ Cẩm Đào. Cho đến nay mọi cuộc chuyển giao thế hệ tại Trung Quốc đều đã diễn ra một cách đẫm máu : giữa Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình là cuộc cách mạng văn hóa, giữa Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân là Thiên An Môn. Trong viễn ảnh đó nếu Việt Nam giàu mạnh lên thì nhiều vấn đề tưởng đã xong vẫn có thể đặt lại được. Nhưng muốn như thế thì phải lột xác và hóa thân. Phải dân chủ hóa nhanh chóng và hiện đại hóa một cách quả quyết.

Trở về với sự thực đau nhức hiện nay : lần đầu tiên trong nhiều thế kỷ bờ cõi chúng ta bị sứt mẻ, do sự tự nguyện dâng hiến của một chính quyền từ trước tới nay rất huênh hoang về thành tích giữ nước.

Trên đường đi tới quyền lực Đảng Cộng sản Việt Nam đã đòi hỏi sự hy sinh của hàng trăm ngàn đảng viên và họ cũng đã khiến nhiều triệu người thiệt mạng. Tuy nhiên họ cũng đã gây được sự cảm phục vì đã chiến đấu dũng cảm. Sự cảm phục này còn đâu nữa sau hành động dâng đất ô nhục này ? Mọi người Việt Nam đều rất đau đớn, nhưng đau đớn nhất là chính những người đã chiến đấu và hy sinh dưới lá cờ của Đảng Cộng sản.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã mất tất cả tính chính đáng. Nó cũng đã mất luôn cả thể diện. Nó không còn được ai kính trọng và cũng đã mất luôn cả sự tự trọng. Nhưng nó sẽ còn kéo dài bao lâu nữa và gây thêm bao nhiêu thiệt hại cho đất nước ?

Người theo dõi