14 thg 6, 2009

14.6.09 Một phép so sánh hai con người

Một phép so sánh hai con người qua hai tấm hình trong bài báo

Tháng Sáu 14, 2009 by freelecongdinh
Báo Thanh Niên: Luật sư Lê Công Định bị bắt khẩn cấp

13/06/2009 23:55

Thiếu tướng Hoàng Công Tư tại buổi họp báo – Ảnh: Minh Nam

Trưa qua 13.6, Cơ quan An ninh điều tra – Bộ Công an đã thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối với luật sư Lê Công Định về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) theo điều 88 Bộ luật Hình sự.

Nghe đọc bài

Cùng ngày, Cơ quan An ninh điều tra tiến hành khám xét đối với luật sư Lê Công Định để thu giữ tài liệu. Đến tối cùng ngày việc khám xét vẫn chưa kết thúc. Lê Công Định không phản ứng gì khi bị bắt và chấp hành mọi yêu cầu, ký vào các tài liệu bị thu giữ.

Cùng ngày, tại Hà Nội và TP.HCM, Tổng cục An ninh – Bộ Công an đã tiến hành họp báo về vụ bắt giữ. Tại cuộc họp báo ở TP.HCM, lúc 17 giờ, thiếu tướng Hoàng Công Tư, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra – Bộ Công an cho biết:

Luật sư Lê Công Định bị bắt theo điều 88 Bộ luật Hình sự vì đã có những hành vi câu kết với những người cầm đầu phản động nước ngoài chống Nhà nước CHXHCNVN. Từ năm 2006 đến nay, Lê Công Định đã biên soạn rất nhiều tài liệu gửi cho các trang web BBC, RFA và các trang web của “Phong trào dân chủ VN”, “Việt Tân”; “Chân trời mới”; “Thông luận”, tập san “Tự do dân chủ”… do những kẻ phản động lưu vong lập ra. Các tài liệu này nhằm xuyên tạc chống phá đường lối, chính sách kinh tế – xã hội, vu khống bôi nhọ lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo của chính quyền và tập trung vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; gây chia rẽ, mất lòng tin trong các tầng lớp nhân dân.

Ngoài ra, lợi dụng việc bào chữa cho một số người như Nguyễn Quốc Quân (tự xưng là Ủy viên Trung ương Đảng Việt Tân), Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải tại các phiên tòa, Lê Công Định đã thông qua các luận chứng bào chữa để thực hiện ý đồ chống phá, xuyên tạc Hiến pháp và pháp luật của nước CHXHCNVN.

Lê Công Định còn có quan hệ rất chặt chẽ với một số người cầm đầu, cốt cán của các tổ chức phản động lưu vong người Việt, như Hà Đông Xuyến (cầm đầu tổ chức Việt Tân – tổ chức mà cơ quan an ninh đã thông báo cho các cơ quan nước ngoài biết đây là phản động khủng bố cùng với tổ chức của Nguyễn Hữu Chánh).

Bên cạnh đó, Lê Công Định là thành viên chủ chốt trong nhóm chống đối do Nguyễn Sỹ Bình (cầm đầu “Đảng nhân dân hành động” ở Mỹ) chỉ đạo, hoạt động với mục tiêu lật đổ chế độ. Lê Công Định thường xuyên liên lạc với Nguyễn Sỹ Bình bàn thảo về mục tiêu, kế hoạch hoạt động và là người đứng ra tổ chức tập hợp lực lượng nhằm thành lập “Đảng dân chủ” và “Đảng lao động Việt Nam”; câu kết với bọn phản động lưu vong được sự ủng hộ của một số thế lực phản động quốc tế bàn cách lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam.

Tháng 3.2009, Lê Công Định sang Phuket (Thái Lan) gặp Nguyễn Sỹ Bình, Trần Huỳnh Duy Thức họp bàn, đánh giá những vấn đề kinh tế, chính trị của Việt Nam và đề ra kế hoạch hoạt động chuẩn bị cho thời điểm xảy ra “biến động chính trị” lật đổ chính quyền Việt Nam vào năm 2010. Các đối tượng này lấy bí danh chihai: Nguyễn Sỹ Bình, chiba: Trần Huỳnh Duy Thức, chitu: Lê Công Định để tránh bị phát hiện.

Để chuẩn bị cho kế hoạch lật đổ, Lê Công Định cùng với một số kẻ chống đối khác soạn thảo tài liệu “Tân hiến pháp” nhằm thay thế Hiến pháp nước CHXHCNVN.

Trả lời các phóng viên tại cuộc họp báo, thiếu tướng Hoàng Công Tư cho biết việc bắt khẩn cấp Lê Công Định được tiến hành theo quy định của pháp luật, cơ quan điều tra đã có đầy đủ căn cứ. Thiếu tướng cho biết thêm, ngày 24.5, Trần Huỳnh Duy Thức – Tổng giám đốc Công ty cổ phần internet Một Kết Nối (OCI) đã bị bắt giữ. Cơ quan An ninh điều tra cũng đã khởi tố Thức về hành vi tuyên truyền chống phá Nhà nước và trộm cước viễn thông.

Ảnh: D.Đ.M

Lê Công Định có bí danh Nguyên Kha, Paul. Sinh ngày 1.10.1968.Năm 1989 tốt nghiệp Đại học Luật, 1990 – 1991: Chuyên viên Phòng Công chứng số 1 TP.HCM, 1991 – 1993: Nhân viên Văn phòng Đoàn luật sư TP.HCM, 1993-1994: Chuyên viên pháp lý Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 1994 – 1998: Luật sư tập sự chi nhánh Công ty luật Coudert Brothers TP.HCM, 1998 – 2000: Du học thạc sĩ luật tại Mỹ, tháng 6.2000 – 11.2000: Luật sư Văn phòng luật sư Thắng & Associates.

Thời điểm bị bắt đang làm việc tại Công ty luật TNHH một thành viên Lê Công Định (37 Tôn Đức Thắng, Q.1).

Lê Công Định từng đảm nhiệm chức vụ Phó chủ nhiệm Đoàn luật sư TP.HCM, được nhiều người biết đến từ khi tham gia vụ kiện chống bán phá giá. Năm 2004, kết hôn với Hoa hậu Việt Nam 1998 Nguyễn Thị Ngọc Khánh.

Lê Nga – Minh Nam – Thái Uyên

Khai dân trí ( Lê Công Định )

Tháng Sáu 14, 2009 by freelecongdinh

Tin Luật sư Lê Công Định vừa bị bắt khẩn cấp trưa ngày 13/6/2009 khiến những người yêu mến các bài viết sắc sảo, thẳng thắn nhưng luôn ôn hoà của ông về những vấn đề chính trị, xã hội và pháp luật Việt Nam, cũng như cảm phục thái độ dũng cảm của ông với tư cách luật sư biện hộ trước toà cho những nhà báo, nhà hoạt động dân chủ bị nhà cầm quyền Việt Nam truy tố và kết án trong những năm qua như blogger Điếu Cày, Luật sư Lê Thị Công Nhân, Luật sư Nguyễn Văn Đài, bàng hoàng.

Để độc giả có một hình dung về ông, người vừa bị các cơ quan truyền thông trong nước đồng loạt đăng tin đã bị bắt vì có các hành vi cấu kết với bọn cầm đầu phản động nước ngoài chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” và là kẻ phản dân, hại nước, chúng tôi xin giới thiệu một số bài viết quan trọng của ông và đăng lại toàn văn một bài vốn đã đăng trên tạp chí Tia Sáng, nay không còn tồn tại ở địa chỉ gốc.

talawas

______________

Một số bài viết của Luật sư Lê Công Định (xếp theo thời gian công bố)

Vai trò xây dựng án lệ của toà án (Bản tin Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh, Số 8, ngày 26/7/2003)

Trích: “Hệ thống tòa án Việt Nam hiện tại được tổ chức và vận hành thuần túy như một thành phần của bộ máy công quyền hơn là cơ quan tư pháp với vai trò duy trì công lý trong một cộng đồng có nhiều quyền lợi đa dạng. Tuy hành xử quyền tài phán, một trong ba quyền nền tảng của hệ thống quyền lực quốc gia, tòa án lại hoạt động như một cơ quan hành pháp, và các thẩm phán cũng chỉ đơn thuần là những công chức mẫn cán của bộ máy công quyền đó.”

Tính minh bạch trong hoạt động của toà án (Đặc san Nghề Luật, Trường Đào tạo các Chức danh Tư pháp, Số 7 năm 2004)

Vào cuộc cạnh tranh toàn cầu... (Báo Tuổi Trẻ, 25/2/2006)

Trích: “Trong một bài viết trên bản tin đoàn LS tháng 7-2003, LS Định thẳng thừng: ‘Phán quyết của tòa án hiện nay thường thiếu chiều sâu và sự uyên bác trong nhận định và phân tích các vấn đề pháp lý cụ thể. Một số thẩm phán đôi khi phải đưa ra những lời giáo huấn đạo đức không cần thiết cho các bị cáo hoặc các bên tranh chấp nhằm khỏa lấp những khuyết điểm đó’. Cứ thế, cái cách nói đôi khi gay gắt của chàng LS trẻ này khiến không ít người khó chịu.

Trả lại hào khí Diên Hồng (Báo Pháp Luật TP. HCM ngày 5/3/2006, BBC ngày 11/3/2006)

Trích: “Vì nhu nhược, chúng ta không dám phản kháng thói hạch sách, nhũng nhiễu của lớp quan lại mới, chấp nhận dùng tiền vượt qua trở ngại. Đến khi nhìn lại, quốc nạn tham nhũng và quan liêu đã lan tràn, bất trị.

Vì nhu nhược, chúng ta che tai không dám nghe lời nói ngay thẳng, mặc nhiên dung túng sự dối trá và xu nịnh. Đến khi bừng dậy, đạo đức đã suy đồi, khó sửa.

Vì nhu nhược, chúng ta hài lòng với những gì đang có, cố tin vào sự ổn định giả tạo, đắm mình vào những lễ hội vô nghĩa liên miên. Đến khi nghĩ lại, xung quanh đã đầy dẫy ung nhọt, không còn thuốc chữa.

Vì nhu nhược, chúng ta bịt mắt trước những bước đi vũ bão của các dân tộc láng giềng. Đến khi tỉnh ngộ, sự tụt hậu quá rõ ràng, không còn cơ may rút ngắn khoảng cách.

Để che giấu mặc cảm do nhu nhược, khắp nơi người ta kể nhau nghe những bài vè châm biếm hoặc lớn tiếng dè bỉu chuyện cung đình tồi tệ, nhưng lại trong … quán nhậu! Chí khí kiểu “sĩ phu Bắc Hà” ấy liệu sẽ giúp ích được gì cho công cuộc chấn hưng đất nước đang lúc cần hào khí Diên Hồng năm xưa?”

Tại sao không nên sợ ‘đa nguyên’ (BBC, 13/4/2006)

Trích: “Sự thành công của đa nguyên kinh tế đang đòi hỏi một mô hình khác của đa nguyên chính trị. Liệu Đảng Cộng sản dám chấp nhận thách thức của thời đại, vì quyền lợi chung của dân tộc, đưa nền chính trị đa nguyên hiện tại dấn thêm một bước?

Làm được điều đó là vượt qua cái bóng của chính mình và sẽ để lại tiếng thơm muôn đời. Bản lĩnh và trí tuệ của một đảng cầm quyền là nhận thức được bước ngoặc lịch sử này để quyết đoán đề ra và thực thi một sách lược thích hợp.

Ngược lại, nếu cứ cố thủ trong những thành trì lý luận lung lay sẽ càng chuốc thêm thất bại tất yếu của lịch sử, mà có khi phải trả giá bằng máu của biết bao nhiêu người.”

Bàn về ‘Chính danh’ trong thể chế pháp trị (BBC, 04/7/2006)

Trích: “Việc điều hành hệ thống quản lý nhà nước với cơ chế thông qua những quyết sách quan trọng và bầu chọn nguyên thủ quốc gia, mà trên thực tế do một đảng chính trị quyết định, dù là đảng cầm quyền, một lần nữa cho thấy Đảng, chứ không phải nhà nước, đang cai trị quốc gia. Thể chế chính trị như vậy, trong ngành chính trị học, được định danh là “đảng trị”, chứ không phải “pháp trị”.

Tầm vóc thuyền trưởng, tầm vóc dân tộc (Báo Tuổi Trẻ, 15/12/2006)

Trích: “Thách thức lớn nhất của thời-đại-WTO là Chính phủ có đủ dũng khí thực hiện những thay đổi cần thiết nhằm tự nâng mình và nâng cả dân tộc lên một tầm cao mới hay không. Hơn bao giờ hết, chúng ta thật sự cần những nhà kỹ trị trong bộ máy lãnh đạo quốc gia. Không có họ, khó có thể có được một chính quyền chuyên nghiệp, quản trị quốc gia một cách khoa học. Trở ngại ở đây là lề lối lựa chọn nhân sự cho vị trí lãnh đạo các cơ quan công quyền.”

Thế giới ảo và hiệu quả của chính phủ (BBC, 05/2/2007)

Bài học Miến Điện (BBC, 01/10/2007)

Trích: “Đã có những cuộc tranh luận nảy lửa và thương lượng sóng gió, nhưng cuối cùng tư tuởng dân chủ của thời đại vẫn chiến thắng. Các chế độ quân chủ độc đoán nhờ vậy đã chuyển mình nhẹ nhàng sang thể chế dân chủ pháp trị, ít khốc liệt và ít trả giá hơn nếu so với nước Nga và thậm chí một số nước Tây Âu đương thời.”

Bài biện hộ của Luật sư Lê Công Ðịnh trong phiên tòa phúc thẩm xử hai Luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân ngày 27/11/2007

Một thế hệ dấn thânTặng các bạn thanh niên tham gia hai cuộc biểu tình ngày 9/12/2007 và 16/12/2007 tại Hà Nội và Sài Gòn Gửi ông Võ Văn Thưởng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (22/12/2007)

Tuyên bố về Hoàng Sa và Trường Sa của Đoàn Luật sư TP HCM (Ls Lê Công Định là người chấp bút) 05/1/2008

LS Lê Công Định: Việc khởi tố 2 nhà báo viết bài về vụ PMU18 là vi phạm pháp luật (RFA, 27/5/2008)

Luật sư Lê Công Định chính thức gửi đơn đến tòa án tối cao CSVN yêu cầu giám đốc thẩm các bản án trong vụ xử Ls Nguyễn Văn Đài và Ls. Lê Thị Công Nhân (04/6/2008)

Thủ lĩnh phe cộng sản cấp tiến (BBC 16/6/2008)

Trích: “Ông (Võ Văn Kiệt) ý thức được bộ mặt lem luốc của đất nước ra sao trước cộng đồng quốc tế khi các cơ quan tư pháp vẫn còn là công cụ do Đảng và bộ máy công quyền chi phối, đó là chưa nói đến tham nhũng đã khiến công lý trở thành điều xa xỉ đối với người dân thấp cổ bé họng. Ông hiểu rõ và muốn thoát khỏi lối mòn tiếp cận vấn đề vừa đơn giản, lạc hậu, vừa bế tắc của các bộ ngành và viện nghiên cứu do nhà nước kiểm soát.

Phỏng vấn Luật sư Lê Công Định trước phiên xử “vụ Điếu Cày” (RFA, 10/9/2008)

Đất đai dưới áp lực của tiền và quyền tại Việt Nam (RFA, 27/2/2009)

Chuẩn mực văn minh cần tôn trọng (BBC 09/3/2009)

Trích: “Gần đây những cuộc đột nhập văn phòng luật sư để tịch thu tài liệu và máy tính hoặc khám xét hành lý của các luật sư tại phi trường ở Việt Nam đã dấy lên mối quan ngại về sự công khai xâm phạm bí mật nghề nghiệp luật sư, một trong những chuẩn mực văn minh mà bất kỳ nhà nước pháp quyền nào trên thế giới cũng tôn trọng.”

Đọc sử để nhìn nhận hôm nay (BBC, 02/5/2009)

Trích: “Trong lần đọc lại sử sách nước nhà năm nay, không hiểu vì sao tôi lại quan tâm nhiều đến các nhân vật “thân bại danh liệt” như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống và Hoàng Cao Khải, rồi tự hỏi không biết 30 năm nữa, nếu còn sống, tôi sẽ biết thêm những cái tên nào tương tự như vậy trong lịch sử hiện đại của dân tộc. Bất giác tôi cầu mong điều đó đừng xảy ra…”

_____________

Khai dân trí

Đại sứ Hoa Kỳ Michael Marine đã có buổi nói chuyện ngắn, nhưng lý thú, vào chiều ngày 20/9/2006 tại Sài Gòn về quan hệ Việt-Mỹ. Ông đã có một số nhận xét đáng chú ý về nạn tham nhũng nghiêm trọng và sự thiếu minh bạch của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. Sau bài phát biểu là phần hỏi đáp theo thông lệ. Thính giả hôm ấy, ngoài báo giới, phần đông là giới trí thức ở những lĩnh vực khác nhau, một số có tên tuổi trong xã hội.

Người thông thái không đến từ câu trả lời mà từ câu hỏi. Nghe nội dung và cách hỏi người ta có thể nhận biết được người hỏi ở thang bậc nào của chỉ số trí tuệ, và thậm chí, văn hóa. Tất cả những câu hỏi hôm ấy, đáng buồn thay, không thể hiện được tầm vóc của “trí tuệ Việt” mà thiên hạ đang cổ súy. Dù vậy, nhận định vui hay buồn về “trí tuệ Việt” không phải là chủ đề của bài viết này.

Buổi nói chuyện ngắn về đề tài ngoại giao của ông Đại sứ Mỹ chiều hôm ấy khiến người ta ưu tư về một đề tài khác không kém phần quan trọng, đó là giáo dục. Trong số những người đặt câu hỏi hôm ấy, đáng chú ý có một vị xưng danh là “chuyên gia kinh tế”. Vị này hỏi rằng Việt Nam nên theo đuổi chính sách phát triển kinh tế nào khi mà nền kinh tế tự do luôn mang đến nhiều bất ổn xã hội và rối loạn chính trị, với bằng chứng là ở Thái Lan ngày 19/9/2006 đã xảy ra đảo chính quân sự!

Thính giả hôm ấy quả thật kinh ngạc trước lối tư duy như vậy. Ai cũng biết cuộc chính biến vừa qua ở Thái Lan không những không mang đến bất ổn xã hội mà còn giúp giải quyết tình trạng rối loạn chính trị đang đi đến cực điểm do nạn tham nhũng bất trị của Chính phủ Thaksin Shinawatra gây ra, chứ không phải xuất phát từ chính sách kinh tế tự do của ông cựu Thủ tướng này. Mặt khác, trên thực tế, hoàn toàn không có bất kỳ mối liên hệ nhân quả nào giữa chính sách kinh tế tự do với đảo chính quân sự, bất ổn xã hội và rối loạn chính trị. Có thể kể ra nhiều bằng chứng hiển nhiên ngược lại với nhận định nông cạn ấy.

Rõ ràng những suy nghĩ kiểu như trên là điều thường thấy trong một nền giáo dục ít quan tâm đến việc trang bị cho cá nhân những kiến thức khả dụng và kỹ năng phân tích độc lập. Niềm tin của vị “chuyên gia” đó chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về những “định đề”, đặc biệt trong lĩnh vực sử học, đã gắn chặt vào đầu óc các thế hệ sinh viên Việt Nam sau khi họ được nhào nắn khéo léo trong khuôn khổ nền giáo dục hiện tại. Ai cũng tưởng lời thuyết giảng trên giảng đường là chân lý bất biến, không cần chứng minh, kể cả những người hay hoài nghi và tin rằng mình khá tự chủ.

Nhìn vào hệ thống giáo dục từ trước đến nay có thể dễ dàng nhận thấy rằng việc đề cao suy nghĩ cá nhân và phương pháp nghiên cứu độc lập hoàn toàn thiếu vắng tại các trường trung học và giảng đường đại học. Mục tiêu giáo dục chỉ nhằm nhồi nhét kiến thức đủ để đối tượng của nền giáo dục trở thành những chiếc đinh ốc chỉ biết nhảy múa theo nhịp điệu vận hành của cỗ máy nhà nước và xã hội đã được hoạch định sẵn chương trình hoạt động theo “cơ chế”.

Học sinh và sinh viên thì lười biếng tìm hiểu nguồn gốc và cơ sở của các kiến thức và thông tin được “mớm” cho mình, vì bậc cha chú và thầy cô không khuyến khích thói quen tranh luận, đối thoại, và thậm chí từ chối thừa nhận dấu ấn cá nhân trong nhân sinh quan. Giới nghiên cứu học thuật thì lờ đi hoặc ít quan tâm đến việc chú giải chi tiết nguồn gốc thông tin mà mình viện dẫn trong các công trình và luận án khoa học, vì có vẻ khắp nơi người ta mặc nhiên ăn cắp ý tưởng của người khác mà không cảm thấy ngần ngại hay xấu hổ.

Mặt khác, chưa bao giờ ở xã hội Việt Nam lại có nhiều tiến sĩ như vậy. Một thời dân chúng nhạo báng quan chức không được học hành tử tế, nhưng giờ đây, như để tránh ánh mắt miệt thị của dân chúng, vị quan to nào cũng rủng rỉnh một mảnh bằng tiến sĩ hoặc chí ít là thạc sĩ. Nạn mua bán bằng cấp do tâm lý chuộng nhãn hiệu trí tuệ bề ngoài hơn thực học báo hiệu thực trạng suy đồi không tránh khỏi của nền giáo dục cùng hệ lụy của nó là suy đồi đạo đức.

Cải cách giáo dục tại Việt Nam xem ra là một vấn đề nan giải, không chỉ đơn thuần được giải quyết bằng cách trả lương cao cho giới giáo chức hoặc tăng cường kiểm soát quy trình soạn thảo nội dung sách giáo khoa. Thật ra, tương lai hệ thống đào tạo nhân tài cho quốc gia tùy thuộc vào việc khi nào nhà nước chấm dứt sự can thiệp nghiệt ngã vào nội dung giảng dạy ở bậc trung học và đào tạo ở bậc đại học. Giáo dục là một lĩnh vực chuyên môn cần được dành quyền tự trị một cách tối đa. Chỉ người tiêu dùng, tức phụ huynh trả tiền cho con em đi học và chính người đi học, có quyền thẩm định chất lượng sản phẩm giáo dục của các cơ sở đào tạo. Không cần quá lo ngại tình trạng lừa đảo thường thấy trong hoạt động đào tạo vì luật pháp và xã hội đã có đủ những công cụ cần thiết để xử lý.

Dân trí chỉ có thể được “khai hóa” khi người dân được cung cấp kiến thức và thông tin đa chiều để tự mình thẩm định và tiếp nhận nội dung của kiến thức và thông tin ấy. Trường lớp, một công cụ của giáo dục, chỉ thủ giữ vai trò hướng dẫn và cung cấp phương pháp tư duy và phân tích cho đối tượng của nền giáo dục. Người dân, khi tranh luận, thậm chí thách thức, những kiến thức và thông tin sai lệch sẽ không gặp rắc rối về phương diện pháp lý với nhà cầm quyền, hay tối thiểu cũng nhận được sự bảo đảm và bảo vệ của luật pháp. Chỉ như vậy thì nền giáo dục mới hoàn thành được trọng trách “khai dân trí” của mình.

Nguồn: Địa chỉ gốc trên tạp chí Tia Sáng (nay không còn hoạt động):http://www.tiasang.com.vn/news?id=1039

Một chút về Lê Công Định

Tháng Sáu 14, 2009 by freelecongdinh

Từ tầng hầm của phòng chưởng khế Sài Gòn

Năm 1989, Định mới ra trường, vào làm việc ở Phòng Công chứng số 1. Ngoài công việc phụ tá cho công chứng viên, Định biết tiếng Pháp nên được giao thêm việc thống kê sắp xếp kho tài liệu dưới tầng hầm của tòa nhà 89 Nguyễn Du. Đó vốn là trụ sở của phòng chưởng khế Sài Gòn trước 1975.

Sáng công tác chuyên môn, chiều làm trong kho tư liệu. Vừa làm vừa tò mò đọc xem thời trước người ta hành xử công việc pháp lý như thế nào. Càng đọc, Định càng sửng sốt khi những kiến thức của một cử nhân luật như mình lại không hiểu hết một văn bản pháp lý của nền hành chính cũ. Trong đầu Định một ý nghĩ lớn dần: trước đây VN từng có một nền văn minh pháp lý rất chuẩn mực.

Cũng thời điểm đó, LS Triệu Quốc Mạnh tập hợp những nhân vật rất giỏi luật của Sài Gòn mở lớp luật ở ĐH Tổng hợp TP.HCM với tiêu chí dạy “theo tinh thần pháp lý thế giới”. “Tôi nghĩ mãi rồi quyết định bỏ việc để đi học tiếp”. Lúc qua trường luật xin xác nhận điểm để miễn một số môn, một thầy giáo cũ biết chuyện tròn mắt hỏi: “Mày có khùng không mà đi học cái lớp vớ vẩn?”.

Nhưng trong cái lớp học ấy, LS Triệu Quốc Mạnh có những bài giảng nổi tiếng về tinh thần pháp lý thế giới; thầy Võ Phúc Tùng (tiến sĩ luật bảo vệ luận án cuối tháng 4-1975) làm Định say mê với “khế ước và nghĩa vụ” theo chuẩn mực của Pháp. Thầy Lương Văn Lý dạy rất hay về công pháp quốc tế… Đó là những giáo sư giỏi nhất chuyện “hạ đo ván” sinh viên trong các kỳ thi.

Càng học, Định thấy hiểu rõ hơn những gì anh đọc trong căn hầm của phòng chưởng khế hồi xưa. Thầy Tùng tạo một ấn tượng lớn từ kiến thức uyên bác cho tới tư cách trong cuộc đời. Có thời điểm khó khăn, phải đi sửa đồng hồ kiếm sống nhưng ông vẫn vô tư: “Học tiến sĩ khó cỡ nào còn học được thì nhằm nhò gì những cái đơn giản này!”. Ông nhận Định làm học trò dạy tiếng Pháp.

Suốt tám năm trời, hai thầy trò cặm cụi ba buổi tối mỗi tuần. Mỗi buổi học xong hai giờ ngôn ngữ, thầy trò lại xoay qua bàn chuyện văn chương Pháp với Victor Hugo, Alexandre Dumas… Có bữa cúp điện, hai thầy trò đốt đèn dầu, mồ hôi nhễ nhại. Chính cái vốn tiếng Pháp dưới ánh đèn dầu này đã tạo điều kiện cho Định vào làm ở văn phòng luật Coudert Brothers. Vị LS đại diện văn phòng này ở Sài Gòn vì mê tiếng Pháp của anh mà nhận vào. Năm đó Định 26 tuổi. Rồi một bước ngoặt mới: suất học bổng đi Pháp…

Đến Paris và Columbia…

“Trước những năm 1997, tôi nghiên cứu luật trong nước, thấy luật mình còn thiếu nhiều quá, muốn làm một điều gì đó nhưng kiến thức không có. Tôi thèm một chuyến đi du học Pháp. Nhưng hồi đó, những suất học bổng chỉ có cán bộ ngành tòa án hoặc người ngoài bộ mới được. Rồi năm 1997, lần đầu tiên người ta cho các đoàn LS dự tuyển các suất học bổng. Tôi bước chân ra khỏi đại sứ quán mà như bay trên mây với suất học bổng ngành luật của Trường đại học Tổng hợp Pantheon – Assas (Paris 2).

Vài tháng sau, một ngày đang lang thang ngao du ở châu Âu, có một tin vui không kém: tôi giành được học bổng Fulbright đi Mỹ. Thông tin này thay đổi nhiều thứ với tôi.

Sau vài tháng học ở Paris, tôi nhận ra đại học Pháp thời điểm đó vẫn là sự kéo dài của hệ thống thực dân cũ: trì trệ, bảo thủ. Năm 1998-1999 mà cả trường chỉ có hai máy photo, mượn một đống sách từ thư viện phải mất 3-4 giờ đồng hồ chờ đợi để photo. Giáo sư thì như một vị thánh trên giảng đường, bắt học thuộc lòng y như ở VN chứ không dạy về tư duy pháp lý.

Tôi tranh thủ học thêm một khóa triết của Trường đại học Sorbonre theo lời khuyên của thầy Tùng (“Phải biết căn bản triết học để hiểu nền luật pháp”), đến tháng 5-1999 tôi rời Paris, bỏ luôn những môn thi cuối cùng của bậc thạc sĩ (vào cuối tháng 6-1999) để sang Mỹ học cao học luật ở ĐH Tulane – Columbia”.

“Tôi ủng hộ án lệ!”

Đó là câu đầu tiên và là sợi chỉ xuyên suốt câu chuyện của LS Định. Anh mang ra hai quyển Quyết định giám đốc thẩm của hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao năm 2003 -2004 (đó là những bản án ở cấp giám đốc thẩm sửa sai các vụ án khó ở tòa cấp dưới và được xem như một ví dụ về việc áp dụng các điều luật khi xét xử những vụ án tương tự như vậy) rồi nói một cách tự hào: “Đây là một bước rất nhỏ của án lệ tại VN!”.

Do những đặc thù của VN, án lệ là một quãng đường đầy khó khăn và nhiều tranh cãi. Trong một bài viết trên bản tin đoàn LS tháng 7-2003, LS Định thẳng thừng: “Phán quyết của tòa án hiện nay thường thiếu chiều sâu và sự uyên bác trong nhận định và phân tích các vấn đề pháp lý cụ thể. Một số thẩm phán đôi khi phải đưa ra những lời giáo huấn đạo đức không cần thiết cho các bị cáo hoặc các bên tranh chấp nhằm khỏa lấp những khuyết điểm đó”. Cứ thế, cái cách nói đôi khi gay gắt của chàng LS trẻ này khiến không ít người khó chịu.

Và sự “nổi tiếng” của LS Định lại là sự “khùng”. Không ít lần anh từng bị các quan chức một bộ nhắn gửi: “Thằng đó khùng hay sao mà tuyên bố này nọ hoài”. Đó là khi anh truy đến cùng các nguyên nhân khiến luật chưa ra đời đã trở nên lạc hậu: “Bộ luật dân sự của Napoléon xây dựng cách đây 200 năm; Bộ luật dân sự Đức xây dựng cách đây 100 năm – không hề được sửa bởi trước đó những bộ luật này đã kế thừa được hệ thống luật bất thành văn của hàng ngàn năm trước và quan tòa, khi xét xử, nếu thấy không phù hợp thực tế bèn giải thích theo thực tiễn để thay đổi tinh thần của nó.

Đó là sửa luật theo án lệ. Tức nền tảng luật phải bắt nguồn từ cuộc sống và ở các nước, chỉ có quan tòa là người duy nhất giải thích luật, còn ở ta ai muốn giải thích cũng được cả. Nó làm cho luật pháp mất tính thống nhất và vị trí độc lập của quan tòa không cao. Chúng ta có quá nhiều luật nhưng nhiều khi “không xài được” hoặc vừa thông qua đã “chết” rồi vì thiếu tính thực tiễn. Tôi ủng hộ án lệ và chắc chắn luật về án lệ sẽ giải quyết được những điều mà trong thực tiễn chưa có.

Ở VN, người ta có thể trả lại đơn kiện và nói: luật chưa có, Quốc hội chưa ban hành, tôi không xử được. Nhưng ở nước ngoài, người ta sẽ kiện ngay quan tòa vì tội không ban phát công lý”.

Tạm gác giấc mơ tiến sĩ

“Hồi xưa tôi mê luận án tiến sĩ và từng sưu tầm hàng trăm cái ở Paris, từng được chọn làm nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Tulane nhưng rồi về nước, một đam mê khác lấn dần vào công việc hằng ngày của tôi: gầy dựng một công ty luật mình thích, góp phần gầy dựng tinh thần thượng tôn pháp luật từ cộng đồng tới doanh nghiệp và cả chính quyền. Tham gia các vụ việc với chính quyền thành phố hoặc các công ty lớn của Nhà nước… tôi thấy vui nhất là ý thức các vị đã có những thay đổi rất rõ. Vụ VN Airlines, vụ Liên đoàn Bóng đá bị thua kiện và mất tiền ở nước ngoài… đã làm người ta giật mình.

Mới đây, trong một cuộc họp của UBND TP.HCM, tôi ngồi nghe ông Nguyễn Văn Đua chỉ đạo: “Làm gì thì làm, phải tuân thủ những qui định pháp lý, tránh để bị kiện” mà thấy mừng. Đã có những vụ mà chính quyền không thể đơn thuần ra quyết định hành chính, ví dụ thành phố “thuê lại quyền sử dụng” công viên 23-9 từ nhà đầu tư nước ngoài. Mà chuyện đó đâu đơn giản: họ cử LS, quăng sách luật ra bàn, cãi nhau tóe lửa…

Tôi nhớ lại LS Đặng Khải Minh, một Việt kiều nhưng tinh thần của ông thì hết sức VN, tìm mọi cách nâng đỡ và vun vén cho LS Việt, ông khuyên chúng tôi phải chuẩn bị hết mọi điều kiện để LS VN mình có thể sánh ngang với khu vực và thế giới khi tham gia cạnh tranh toàn cầu. Chúng tôi vừa làm vừa học, vừa đào tạo những LS trẻ để họ nâng tầm. Giờ đây chúng tôi có thể sang Singapore hay bất cứ quốc gia nào tham gia các vụ kiện, có thể tranh cãi từng từ ngữ với các LS, buộc họ sửa cả văn bản tiếng Anh hay đưa ra các ý kiến pháp lý trong các hợp đồng mua bán, tài trợ… tầm quốc tế cho khách hàng VN.

VN hiện tại chỉ có khoảng hai văn phòng luật đủ mạnh để làm chuyện đó. Tình trạng cạnh tranh cũng đang làm cho LS VN yếu thế thay vì phối hợp để nâng tầm trên trường quốc tế. Ước mơ lớn nhất của tôi là mở một trường đại học luật tư thục đào tạo kiến thức hiện đại và thực tế phục vụ cho phát triển. Nó sẽ hoạt động theo xu hướng như một trung tâm nghiên cứu sản sinh ra các học thuyết pháp lý – chuyện rất quen thuộc ở nước ngoài. Ta không làm mà khoanh tay nhìn là muộn lắm đó!…”.

Nhiều người đã ra đi và nhiều người đã trở về, với một hành trang đầy đặn và một khát vọng về các cuộc chơi lớn cùng bạn bè quốc tế. Mỗi người trong họ đi trên những con đường khác nhau để cùng gặp nhau trong một nỗ lực.

NGUYỄN VĂN TIẾN HÙNG

Tại sao không nên sợ ‘đa nguyên’

Tháng Sáu 14, 2009 by freelecongdinh
Lê Công Định Luật sư, Sài Gòn

Hai chữ “đa nguyên” từ lâu là điều húy kỵ đối với xã hội và hệ thống chính trị ở Việt Nam. Liệu đa nguyên thực sự ghê gớm đến nỗi mỗi khi nói đến ai cũng phải e dè?

Luật sư Lê Công Định
Luật sư Lê Công Định từ tp Hồ Chí Minh

Đã khi nào chúng ta nghiêm túc phân tích thế nào là đa nguyên và ảnh hưởng của một hệ thống đa nguyên chưa?

Hãy bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế

Trước thời kỳ đổi mới và mở cửa năm 1986, xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã là hai chủ thể duy nhất của nền kinh tế Việt Nam.

Thời ấy, hai chữ “tư doanh” được đồng nghĩa với điều xấu xa tồi tệ, bởi lẽ người ta luôn tin tưởng, một cách thiếu cơ sở, rằng khu vực tư doanh chỉ toàn bọn gian thương, bóc lột, và nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sẽ bị “lật đổ” nếu tư nhân được phép sở hữu tư liệu sản xuất và hưởng giá trị thặng dư.

Nhắc đến kinh tế tư nhân chẳng khác gì âm mưu “đảo chính” và “lật đổ” nền kinh tế quốc dân!

Sau Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vượt qua cái bóng của chính mình khi chấp nhận cho tư nhân tham gia vào hoạt động kinh tế. Công nhận nền kinh tế nhiều thành phần thực chất là thừa nhận đa nguyên kinh tế.

Sự đa nguyên này không những không làm mất đi “độc lập chủ quyền” về kinh tế của đất nước, mà còn làm Việt Nam ngày càng ít lệ thuộc hơn vào viện trợ từ khối xã hội chủ nghĩa.

Kết quả hẳn nhiên ai cũng thấy: chế độ chính trị của Việt Nam vẫn đứng vững trong khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã.

Trong khuôn khổ luật pháp, các công ty nhà nước cạnh tranh lành mạnh và luôn ở thế thượng phong so với các doanh nghiệp thuộc khu vực tư trong nước.

Sự đa nguyên kinh tế tiến thêm một bước khi các công ty nước ngoài “đổ bộ” vào thị trường Việt Nam. Trong bối cảnh mới này, thế chủ động ở những lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia vẫn do chính các công ty nhà nước nắm giữ, tất nhiên cũng trong khuôn khổ do luật pháp ấn định.

Kết quả sau hai mươi năm Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chính sách cải tổ nền kinh tế, mà thực chất là đa nguyên kinh tế, là chúng ta có được một nền kinh tế đang chuyển mình vươn ra thị trường quốc tế với những doanh nghiệp xuất khẩu hàng đầu mà sản phẩm chất lượng cao “made in Vietnam” đã làm không ít đối thủ nước ngoài phải e ngại ngay chính sân nhà của họ.

Gạo, cà phê, cá basa, tôm, giày da … là những minh chứng hùng hồn. Như vậy, đa nguyên không đáng ngại, mà trái lại rất cần thiết nếu biết điều tiết thích hợp.

Đa nguyên chính trị đã và đang hiện hữu

Nói đến đa nguyên trong lĩnh vực chính trị ai cũng giật mình lo ngại, bởi lẽ từ lâu người ta vẫn luôn tin tưởng, một cách thiếu cơ sở, rằng nền chính trị nhiều đảng phái tất yếu dẫn đến sự tranh giành quyền lực và làm suy yếu chủ quyền của đất nước.

Đa nguyên, một lần nữa, là điều húy kỵ, là “diễn biến hòa bình” đe dọa độc lập chủ quyền dân tộc. Vậy phải chăng ở Việt Nam chưa từng có đa nguyên chính trị?

Hãy bình tâm nhìn lại lịch sử. Mặt trận Việt Minh là một tập hợp thành công các đảng phái chính trị cho mục tiêu giành độc lập dân tộc từ 1941 đến 1945.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng là một tập hợp thống nhất các chính khách và trí thức yêu nước ngoài Đảng Cộng sản ở miền Nam trong cuộc chiến chống lại chính quyền Sài Gòn từ 1960 đến 1975.

Cho đến giữa thập niên 80 của thế kỷ trước, hai đảng Dân chủ và Xã hội vẫn sát cánh cùng Đảng Cộng sản trong suốt quá trình tranh đấu giành độc lập dân tộc và phát triển đất nước. Hai đảng này chỉ chấm dứt hoạt động vào năm 1987.

Hiện nay Mặt trận tổ quốc vẫn là diễn đàn hiến định dành cho người ngoài Đảng Cộng sản phát biểu chính kiến của mình trong việc xây dựng đất nước. Như vậy, đa nguyên chính trị đã và đang vẫn hiện hữu ở đất nước chúng ta và Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập và điều tiết thành công nền chính trị đa nguyên đó.

Nay chúng ta, hơn 80 triệu đồng bào trong và ngoài nước, đang đứng trước một vận hội mới – một thời cơ vàng – ngàn năm có một để chấn hưng đất nước.

Sự thành công của đa nguyên kinh tế đang đòi hỏi một mô hình khác của đa nguyên chính trị. Liệu Đảng Cộng sản dám chấp nhận thách thức của thời đại, vì quyền lợi chung của dân tộc, đưa nền chính trị đa nguyên hiện tại dấn thêm một bước?

Làm được điều đó là vượt qua cái bóng của chính mình và sẽ để lại tiếng thơm muôn đời. Bản lĩnh và trí tuệ của một đảng cầm quyền là nhận thức được bước ngoặc lịch sử này để quyết đoán đề ra và thực thi một sách lược thích hợp.

Ngược lại, nếu cứ cố thủ trong những thành trì lý luận lung lay sẽ càng chuốc thêm thất bại tất yếu của lịch sử, mà có khi phải trả giá bằng máu của biết bao nhiêu người.

Mô hình nào cho đa nguyên chính trị?

Đa nguyên là động lực của sự phát triển, điều đó miễn bàn cãi. Vậy mô hình nào sẽ phù hợp? Nên nhớ rằng khi tiến hành đa nguyên về kinh tế, một bài toán hóc búa đã được đặt ra là liệu các thành phần kinh tế tư nhân, nhất là giới đầu tư nước ngoài, có thể câu kết nhau lũng đoạn nền kinh tế quốc gia hay không?

Bài toán này sau đó đã có lời giải đáp hữu hiệu: dù thuộc thành phần kinh tế nào các doanh nghiệp cũng đều mang tư cách pháp nhân Việt Nam, và được thành lập và hoạt động trong khuôn khổ luật pháp Việt Nam.

Các điều kiện để được cấp phép và nghĩa vụ nộp thuế là hai trụ cột điều tiết sự tham gia của giới đầu tư tư nhân vào những thành phần khác nhau của nền kinh tế. Điều này hoàn toàn có thể ứng dụng vào lĩnh vực chính trị.

Có thể nói mẫu số chung của hơn 80 triệu đồng bào trong và ngoài Đảng Cộng sản là: thứ nhất, mọi người Việt Nam đều có cùng nguyện vọng chấn hưng Tổ quốc chung của tất cả, không phân biệt đảng phái, tín ngưỡng, thành phần và giới tính; thứ hai, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là mục tiêu tối hậu của mọi chính sách kinh tế, chính trị và xã hội trong tương lai.

Từ mẫu số chung đó, vấn đề còn lại sẽ là đảng nào có thể giới thiệu được người tài để lèo lái con thuyền đất nước. Sự cạnh tranh giữa các đảng phái đương nhiên phải công bằng và trong khuôn khổ luật pháp.

Tất nhiên, lịch sử sẽ sòng phẳng với công lao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá khứ và hiện tại. Mô hình chính trị đa nguyên tương lai nên bảo đảm rằng người do Đảng Cộng sản giới thiệu sẽ chiếm một tỷ lệ chi phối nhất định tại quốc hội và các cơ quan công quyền.

Điều này cũng giống như khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tỷ lệ cổ phần chi phối dành cho cổ đông là nhà nước luôn được duy trì. Ngoài ra, việc điều tiết nền chính trị đa nguyên phải bảo đảm rằng các “bộ sức mạnh” như bộ quốc phòng, bộ công an, bộ tư pháp, các lực lượng vũ trang … vẫn thuộc quyền kiểm soát của Đảng Cộng sản do công lao bất hủ của Đảng này trong công cuộc tranh đấu cho nền độc lập của dân tộc và do sứ mệnh của Đảng trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Những bộ ngành liên quan đến kinh tế, thương mại, tài chính, giao thông … nên mở rộng cửa để các nhà kỹ trị có tài kinh bang tế thế giúp dân giúp nước.

Mô hình mới của nền chính trị đa nguyên như vậy chắc chắn sẽ tạo sức bật mạnh mẽ đưa đất nước vào cuộc tranh đua thành cường quốc kinh tế trong khu vực, chữa được quốc nạn tham nhũng và rửa được quốc nhục nghèo hèn.

Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục vai trò lịch sử của mình một cách tâm phục khẩu phục từ phía nhân dân và bạn bè quốc tế. Kẻ đối nghịch sẽ mất đi lý do để chỉ trích.

Kết luận: chuyện xứ Campuchia

Thay cho lời kết luận, tôi xin kể một mẩu đối thoại giữa tôi và anh bạn đồng nghiệp người Campuchia khi tôi có dịp sang Phnom Penh làm việc năm ngoái.

Trong lúc chuyện trò, được biết anh bạn này và một người bạn của anh ta đều là thành viên Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia của Thủ tướng Hun Sen – cả hai là luật sư gốc Campuchia, cùng tốt nghiệp luật khoa tại Mỹ và đang giữ những chức vụ quan trọng trong Chính phủ Hoàng gia Cambodge, một người hiện là Thứ trưởng Bộ thương mại – tôi tỏ vẻ ngạc nhiên vì hai người “Campuchia kiều” tại Mỹ này lẽ ra phải là đảng viên Funcipech của Hoàng thái tử Ranaridth.

Người đồng nghiệp của tôi giải thích rằng Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia là một đảng được tổ chức tốt và tập hợp nhiều nhân tài nên phần lớn trí thức Campuchia đều lựa chọn đảng này để tham gia xây dựng đất nước. Lời giải thích này khiến tôi cứ suy nghĩ mãi về một lẽ đời đơn giản như vậy …

…………………………………………………………………

BVB, TP. HCM Xem ra ông Lê Công Định cũng là người có đầu ốc cách tân, nhưng trong bối cảnh chính trị của Việt Nam lúc này tôi không biết phải gọi ông là người hữu khuynh hay là tả khuynh.

Ở Việt Nam hầu như tôi chưa hề nghe ai nhắc đến hai khái Niệm này cả. Thôi thì cứ tạm gọi ông Định là người theo trường phái tiến bộ vậy.

Tiện đây tôi muốn có đôi điều muốn nói với ông. Điều trước tiên tôi muốn nói là vấn đề đa nguyên kinh tế ở Việt Nam mà ông đã để cập và xem đó là thành tích của Đảng Cộng Sản và lấy đó làm chuẩn mực để quy nạp vào cái gọi là ” Đa nguyên chính trị”.

Sau khi hệ thống XHCN ở Đông Âu tan rã, nền kinh tế XHCN ở Việt Nam không còn chỗ dựa, con đường duy nhất của Đảng CS Việt Nam là mô phỏng theo đường lối đổi mới của Đảng CS Trung Quốc.

Cũng kể từ đó nền kinh tế bắt đầu tăng trưởng, đời sống người dân từ từ được cãi thiện. Sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam vừa qua có thể được ví như thế này: Người ta trồng hai cây cùng giống, một cây được chăm sóc tốt còn một cây cứ bỏ mặc, kết quả là hai cây đó vẫn cứ tăng trưởng hàng năm nhưng nhanh chậm thì khác nhau.

Có phải chăng nền kinh tế Việt Nam thuộc về cây tăng trưởng chậm bởi vì cơ chế một Đảng không thể là môi trường tốt cho nền kinh tế thị trường phát triển đúng mức.

Đã đến lúc người ta nhận thấy rằng khi nền kinh tế thị trường tiếp tục phát triển thì tự nó sẽ phá vở cơ chế một đảng vốn không con phù hợp nữa.

Nhưng đa nguyên về chính trị không thể mô phỏng theo đa nguyên về kinh tế như ông Định đã nghĩ. Ngày xưa Mặt Trận Việt Minh, Mặt Trận Dân tộc giải Phóng Miền Nam Việt Nam về thực chất chỉ là con bài chinh trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà thôi chứ không thể gọi là đa nguyên chính trị.

Ông định muốn đa nguyên chính trị theo cái kiểu cũ như vậy thì không ổn chút nào. Nhân dân Việt Nam thật sự muốn được dân chủ hóa mà đa nguyên chính trị chính là hình thức dân chủ hóa triệt để và sâu sắc nhất, là cuộc cách mạng về dân chủ ở Việt Nam.

Long Vân, TP. HCM Các quí vị có nhiều ý kiến đóng góp xem cũng được. Nhưng nhìn VN phát triển từ 1945 đến nay là nhanh hay chậm.

Dĩ nhiên, ai cũng có công và tội, có đúng, sai. Nhưng xét cho cùng động cơ của Đảng lãnh đạo, chính quyền…họ có bán nước ko? có đẩy dân vào con đường cùng ko, có bị bó hẹp ngọai giao ko?, có bị thế giới tẩy chay ko ?

Nếu phân tích một cách tổng thể, tòan diện, sẽ thấy mọi thứ. Đại học còn phải học năm bảy năm, mà chưa thành người có văn hóa, huống gì một đất nước muốn phát triển, như Mỹ cũng trên 200 năm, Pháp, Anh trên 300 năm. Còn VN mới trên 60 năm mà đòi hỏi qúa cỡ.

Các quí vị đã bao giờ đóng góp cho đất nước (to quá),ko? hay chỉ bo bo cho mình. Thế nên, hãy thể hiện khã năng tư duy có văn hóa -tức là góp ý cho đất nước đi lên, giàu mạnh.

ADK Tôi có một ý kiến muốn trao đổi về quan điểm của Anh Lê Công Định về mô hình đa nguyên. Mô hình đa nguyên thích hợp với tình hình hiện nay có lẽ là mô hình tam quyền phân lập: Hành, tư và lập pháp. Đồng thời, áp dụng Thượng và Hạ viện.

Thượng viện quản lý các vấn đề liên quan an ninh quốc gia. Hạ viện quản lý các vấn đề liên quan đến kinh tế và dân sinh. Để thuận tiện cho quá trình chuyển giao sang mô hình đa quyền, Thượng viện sẽ gồm các đại biểu của Đảng CS và một tỷ lệ đại biểu của các Đảng phái chính trong xã hội. Hạ viện là những đại diện do người dân bầu từ những đảng chính trị.

Đồng thời, Hiến pháp và luật pháp liên quan đến bầu cử phải được xem xét và thiết kế đảm bảo dân chủ.

Ẩn danh Tôi xin giải thích rõ hơn cho bạn QT, Pháp là: Theo tôi quan điểm của bạn rất đúng. Tôi nghĩ là ông Lê Công Định cũng hiểu như bạn nhưng ông đang sống ở Việt Nam mà lại đăng tên thật của mình thì thế là quá dũng cảm rồi. Nên ông ta chỉ phát biểu thế thôi.

Ngoài ra tôi cũng xin góp một số ý kiến. Theo tôi Đảng nào lãnh đạo cũng không quan trọng, mà Đảng nào đem lại tự do, phồn thịch cho đất nước mới là quan trọng.

Còn với việc một Đảng lãnh đạo thì đâu đâu cũng thấy tham nhung, cửa quyền, hành dân. Những người Đảng viên CS thế hệ trước đều có mong muốn đem lại độc lập tự do cho đất nước và làm cho VN giàu mạnh sánh vai các cường quốc.

Nhưng những người vào đảng bây giờ đa số đều chỉ mong muốn được thăng quan tiến chức và có điều kiện tham nhũng được nhiều hơn. Nhưng cứ vẫn đề gì động đến uy tín của Đảng thì đều phạm húy cả thì làm sao phát triển được.

Lệ, TP. HCM Theo tôi nghĩ thì ý kiên của ông Lê công Định rất có lý. Sau 10 năm kể từ 1975 Đảng CS Viêt nam liên tục phạm từ sai lầm này đến sai hác do bản chất giáo điều và vốn dĩ quen suốt ngày đánh nhau vì vấy họ không biết tý gì về quản lý và xây dưng kinh tế.

Đương lối XHCN của ĐCSVN thất bại thảm hại. Chính quyên không có cách nào khác là phải để cho dân tự làm ăn để cứu khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng.

Nếu Đảng CSVN muốn được công nhận là đổi mới thì ít nhất cũng phải làm đươc như Ba Lan, Tiệp, Hung và các nước XHCN Đông âu, họ đã nhường cho một nền dân chủ đa nguyên, lấy hiến pháp cai trị. Dân bầu ra chủ tịch nước quôc hội và các cơ quan hành pháp khác còn tòa án, quân đội, công an là không thuôc một đảng phái nào mà là của toàn dân để dân làm công cụ bảo vệ quốc gia.

Ninh, Little Saigon Ông Hun Sen của Kampuchia là một nhà độc tài. Đảng Nhân Dân Cách Mạng của ông Hun Sen khuynh đảo mọi mặt từ XH, KT đến chính trị.

Các đảng phái khác trong chính trường Kampuchia là những đảng cải lương hữu danh vô thực. Ông Hun Sen để yên vì áp lực của những thế lực bên ngoài.

Nhưng những người am hiểu và sống ở Kampuchia và nếu họ không bị khùng thì họ chỉ còn cách chọn đảng của ông Hun Sen. “Một lẽ đời đơn giản như vậy … ” nhưng không phải vậy.

Bài học lịch sử mà chúng ta cần nhớ là bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng mang đết bất hạnh vì cách mạng sẽ sinh ra kẻ thắng người thua va đẻ ra một tầng lớp cai trị và bị trị mới.

Cách mạng Nga mang đến tang tóc cho quốc gia và láng giềng họ , đối phó trước tình hình đó nước Mỹ đã chọn con đường đổi mới với chính sách New Deal của FDR.

Nếu bạn nhìn lại lịch sử thì 2 bộ mặt tư bản Mỹ trước và sau FDR khác nhau một trời một vực . Nước Nga chọn cách mạng và bay giờ họ vẫn phải trả cái giá mà họ chọn.

Nước Mỹ chọn đối mới và bây giờ họ hưỡng. Vấn đề hôm nay của Việt Nam là hình như họ không chịu tiếp tục đổi mới. Nhưng tôi dám chắc với quý vị là nếu VN có thêm một cuộc đổi mới nữa thì lần ba sau đó nước mình đầy “đa” ra đó rợp cả bóng trời .

Minh Nam, Hà Nội Theo một chế độ nào là điều hệ trọng sống còn đối với toàn dân một nước. Không một cá nhân hay đảng phái nào có thể vỗ ngực “chọn hộ” toàn dân.

Có thể trước đây khi dân VN còn cực khổ nhìn thấy hình ảnh máy cầy trên đồng ruộng Liên Xô (trong phim ảnh) đã náo nức mong xây dựng sớm XHCN – như cha tôi nói.

Đó là suy nghĩ của thế hệ trước, khi chưa hiểu XHCN là gì và khái niệm này mơ hồ thế nào; phe XHCN chưa sụp đổ dây chuyền.

Giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc thì còn đoàn kết rộng rãi; sau đó thi hành đường lối đấu tranh giai cấp để “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN” thì đau khổ ập đến ngay. Tuổi tôi mà còn chứng kiến sự thất bại liểng xiểng khi đảng ta đưa nông dân cả nước vô hợp tác xã (sau 1975).

Vậy thế hệ hiện nay nghĩ gì về “tiến lên XHCN” thì phải có ý kiến rộng rãi, tốt nhất là trưng cầu dân ý như các nước châu Âu đã hỏi ý kiến toàn dân khi xin vô EU và khi thông qua hiến pháp EU. Vài đứa bạn nói vui với tôi “không phải tiến lên XHCN mà là lùi xuống XHCN”.

Sao từ ngày đảng ta lãnh đạo toàn diện và triệt để chưa thấy có cuộc trưng cầu dân ý nào vậy. Nếu sợ tốn kém thì cho một số nhà khoa học làm đề tài điều tra (theo đúng phương pháp khoa học) coi thử dân nghĩ gì.

Vô Danh Bất cứ một đảng phái chính trị lãnh đạo nào cũng phải phải vì DÂN vì NƯỚC – Và các nhà lãnh đạo Việt Nam phải biết rằng không có đảng phái chính trị nào là muôn năm cả mà chỉ có Tổ Quốc Việt Nam là MUÔN NĂM!

Phú Ngụ, Sài Gòn Tôi cho rằng không phải sợ gì đa nguyên. Trên thực tế nhiều nhà chính trị Việt Nam đã nghĩ đến điều này, nhưng còn vấp phải một vài sự phản đối từ những cựu đảng viên có suy nghĩ cố hữu. Theo tôi chúng ta không phải đợi lâu nữa. Chỉ khoảng 10 năm nữa thì vấn đề này chắc chắn phải là vấn đề tất nhiên.

Quốc Luân, Czech Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn ẩn danh. Việt nam có thể chế chính trị như bây giờ là do lịch sử và thể chế chính trị đó hoàn toàn được lòng dân. Hiện tại Việt nam KHÔNG THỂ đa nguyên được vì rằng rất nhiều thế lực nước ngoài muốn thanh toán Việt nam.

Có thể đa nguyên có mặt tích cực nhưng nếu mà đa nguyên tại Việt nam bây giờ thì một bộ phận rất nhỏ người Việt được tiếp tay tiếp tiền từ nứớc ngoài sẽ gây chiến tranh, gây đổ máu và cái đó còn nguy hại gấp ngìn lần với những hạn chế của chính thể hiện thời.

Rất mong hồn thiêng Lạc Việt vẫn còn trong mỗi các bạn để các bạn đừng quên rằng : đã có những kẻ đến cướp phá nhà cửa của người Việt nam ta hãm hiếp phụ nữ Việt nam và khi mà cha ông ta phải đổ bao nhiêu xương máu để chống lại điều đó thì lại có những tiếng nói SAU NÀY rằng sự đổ máu đó là không cần thiết !!!!! .

Ẩn danh Tôi thấy chính phủ hiện nay có phần bảo thủ nhưng nếu nhìn ở một góc độ thì sự bảo thủ đó cũng đúng. Ngay từ khi đảng CS thế giới ra đời đã trở thành cái gai trong mắt cần phải nhổ bỏ của một số nứơc tư bản,ngày xưa có LX chống lưng ko cải cách thì thôi chứ bây giờ VN chỉ có 1 mình nếu cải cách liệu có thành công ko hay là nối bước LX.

Chắc các bạn cũng biết sau 30-4-1975 cho đến nay đã 30 năm nhưng dân việt ở hải ngoại luôn nuôi thù hận với CS trong lòng và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Họ ko nhìn những công lao của đảng cộng sản mà chỉ soi những vấn đề tiêu cực để chăm thêm lòng thù hận của mình.

Theo tui trong tình cảnh bây giờ trứơc hết phải cũng cố lại nội bộ, sửa đổi lại những chính sách sao cho hợp với thời thế với lòng dân và phải luôn lấy ý dân làm gốc. Đợi khi hòa giải đựơc với dân việt hải ngoại toàn dân chung một ý tưởng thì hãy tính đến chuyện cải cách chính trị.

QT, Pháp Tôi thấy bài của ông Lê Công Định có rất nhiều mâu thuẫn: Nếu là đa nguyên thì phải đa nguyên ở mọi lãnh vực xã hội.

Ở một số nước Đông Âu như Tiệp khắc, Ba lan, hệ thống cộng sản độc đóan đã tan rã, nhường chỗ lại cho những hệ thống đa nguyên thật sự và vững chắc, mang lại phát triển và no ấm cho nhân dân.

Nhân dân có chủ quyền trên đất nước mình. Việt Nam muốn là nước pháp quyền thì các bộ quốc phòng, bộ công an, bộ tư pháp, các lực lượng vũ trang … phải độc lập, không tùy thuộc vào đảng phái nào hết, mà chỉ phục vụ dân.

Ngành tư pháp phải được đặt trên hết mọi đảng phái , và nhất là không thể là khí cụ phụ thuộc vào đảng CS đã từng và đang chà đạp công lý.

Còn cảnh sát an ninh, cánh tay của công lý, cũng phải đặt vào tau những con người trung trực, không thiên về đảng phái nào hết.

Quân đội phải vào tay chính quyền do dân đề cử chứ không thuộc bè phái nào hết , để tránh nguy cơ cướp đọat quyền thế bằng vũ lực.

Còn về hoàn cảnh hiện tại, Mặt Trận Tổ Quốc trên thực tế chưa bao giờ cho ai ngoài đảng CS diễn đàn phê bình đường lối chính trị của đảng, chỉ vì tổ chức này là do những đảng viên CS chỉ huy.

Người theo dõi